10 bệnh tim ở trẻ sơ sinh thường gặp nhất | TCI Hospital

10 bệnh tim ở trẻ sơ sinh thường gặp nhất

Bệnh tim ở trẻ sơ sinh hay bệnh tim bẩm sinh là các dị tật liên quan đến cấu trúc của tim, xuất hiện do những khiếm khuyết của thời kỳ bào thai trong giai đoạn quả tim đang hình thành. Các dị tật này chỉ xảy ra ở khoảng 1% trẻ sơ sinh và thường không có triệu chứng cho đến khi trưởng thành, nhưng có thể gây ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Hãy cùng “điểm mặt” 10 dị tật tim thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh.

1. Hẹp van động mạch chủ

Van động mạch chủ nằm giữa tâm thất trái và động mạch chủ thường có 3 lá van. Nhưng do sự tăng trưởng không toàn vẹn trong quy trình hình thành bào thai mà van tim này chỉ có 1 lá hoặc 2 lá. Điều này làm cản trở sự bơm máu từ tâm thất trái vào động mạch chủ, do vậy ảnh hưởng tác động đến quy trình bơm máu đi nuôi khung hình. Van này bị hẹp còn khiến dòng máu trào ngược về lại thất trái và ứ đọng ở đây gây to tim, giãn thất trái theo thời hạn .

Dị tật này thường được phát hiện ở tuổi trưởng thành. Hầu hết trẻ em bị hẹp van động mạch chủ không có triệu chứng. Các trường hợp có triệu chứng thì các biểu hiện ở trẻ là:

– Đau ngực– Mệt mỏi– Chóng mặt– Ngất xỉuBệnh tim ở trẻ sơ sinh là bệnh gì?

2. Hẹp van động mạch phổi

Van động mạch phổi là van tim nằm giữa động mạch phổi và tâm thất phải có công dụng kiểm soát và điều chỉnh lượng máu bơm từ tâm thất phải lên phổi để trao đổi oxy. Khi van động mạch phổi bị hẹp sẽ làm cho dòng máu từ tim chuyển dời khó khăn vất vả hơn để vượt qua chỗ hẹp. Sự ùn tắc này hoàn toàn có thể gây ứ đọng máu ở tâm thất phải và làm tăng áp lực đè nén cho động mạch phổi, gây ra những biến chứng cho tim và phổi .

3. Hẹp dưới van động mạch chủ

Đây là sự thu hẹp của tâm thất trái ngay dưới van động mạch chủ, hoàn toàn có thể do bẩm sinh hoặc do bệnh lý cơ tim. Điều này làm hẹp đường tống máu của thất trái, ngày càng tăng gánh nặng cho thất trái .

4. Hẹp eo động mạch chủ

Hẹp eo động mạch chủ là tình trạng thu hẹp cục bộ lòng động mạch chủ, dẫn đến tăng áp lực gây phì đại thất trái. Động mạch chủ bị hẹp cũng làm cản trở quá trình máu đến các cơ quan trọng trong cơ thể và gây tăng huyết áp trực tiếp tại chỗ hẹp. Bệnh này chiếm khoảng 7% các trường hợp tim bẩm sinh, tỷ lệ nam/nữ khoảng 1,7/1.

Hẹp eo động mạch chủ thường không có triệu chứng ngay lúc mới sinh. Những bộc lộ sớm nhất thường Open vào tuần tiên phong sau sinh. Bệnh cần được phát hiện và điều trị sớm để tránh hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên 1 số ít ít trường hợp bệnh chỉ phát hiện được ở tuổi trưởng thành .

5. Thông liên nhĩ

Đây là hiện tượng kỳ lạ Open lỗ thông ở vách ngăn giữa nhĩ trái và nhĩ phải, làm máu lưu thông giữa hai tâm nhĩ thay vì chỉ đi từ tâm nhĩ xuống tâm thất như thông thường. Thông liên nhĩ ở trẻ nhỏ thường không có triệu chứng và 1 số ít lỗ thông ( thường là thông liên nhĩ lỗ thứ hai, đường kính < 8 mm ) hoàn toàn có thể tự đóng sau 2-5 năm. Những lỗ thông còn lại không hề tự đóng và cần điều trị nội khoa lâu dài hơn hoặc can thiệp bằng những giải pháp do bác sĩ chỉ định .bệnh tim bẩm sinh ở trẻ gồm những bệnh nào?

6. Thông liên thất

Lỗ thông hình thành ở vách ngăn thất do những khiếm khuyết trong quy trình hình thành bào thai khiến dòng máu lưu thông từ thất trái qua thất phải. Tình trạng này làm tăng lưu lượng máu từ thất phải lên phổi, làm tăng áp động mạch phổi nếu lê dài. Tương tự thông liên nhĩ, một số ít lỗ thông liên thất hoàn toàn có thể tự đóng nhưng nhiều trường hợp khác cần can thiệp để đóng lỗ thông. Đa phần bệnh nhân hoàn toàn có thể “ chung sống ” nhiều năm mà không có bất kể triệu chứng gì .

7. Tứ chứng Fallot

Tứ chứng Fallot là nổi bật của dị tật tim bẩm sinh có tím ở trẻ lớn trên 2 tuổi, đặc trưng bởi 4 dị tật, gồm có : thông liên thất, hẹp tại van hoặc ngay dưới van động mạch phổi, dày thất phải, động mạch chủ nằm trên lỗ thông vách liên thất .

8. Teo van ba lá

Đây là bệnh tim ở trẻ sơ sinh không có van ba lá, đặc trưng bởi: tâm thất phải nhỏ, thất trái lớn do không có máu chảy từ nhĩ phải xuống thất phải. Teo van ba lá gây suy giảm tuần hoàn phổi, tím tái ở trẻ. 

9. Chuyển vị đại động mạch

Là hiện tượng kỳ lạ đảo ngược vị trí của động mạch chủ và động mạch phổi. Cụ thể, động mạch chủ bắt nguồn từ tâm thất phải khiến cho hầu hết máu trở về tim từ khung hình được bơm trở lại ra ngoài mà không đi đến phổi. Trong khi đó, động mạch phổi bắt nguồn từ tâm thất trái, làm máu trở về tim từ phổi sẽ được bơm ngược trở lại lên phổi. Bệnh này cần được điều trị ngay, nếu không sẽ làm đảo lộn hoạt động giải trí của tim phổi, gây ảnh hưởng tác động nghiêm trọng đến tính năng hệ tuần hoàn .

10. Còn ống động mạch

Ống động mạch là một cấu trúc bẩm sinh nối giữa động mạch chủ – phổi, giữ chức năng đưa máu vào động mạch chủ trong thời kì bào thai. Do ở thời kỳ này, phổi chưa hoạt động, sức cản phổi cao, máu từ thất phải vào hệ tuần hoàn phổi rất ít. Ống này sẽ đóng chức năng trong khoảng 10-15 giờ sau khi sinh và đóng hoàn toàn khi trẻ được 2-3 tuần tuổi. Nếu ống động mạch không đóng lại, trẻ sẽ bị dị tật còn ống động mạch. 

bệnh tim bẩm sinh có nguy hiểm không?Dị tật này được cho phép máu trộn lẫn giữa động mạch phổi và động mạch chủ, làm tăng áp phổi rất nguy khốn .Ngoài 10 dị tật trên, trẻ sơ sinh còn hoàn toàn có thể gặp những dị tật bẩm sinh tương quan đến tim như hội chứng giảm sản tim trái, Ebstein, …

Bệnh tim ở trẻ sơ sinh là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ, cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời để có thể bảo vệ an toàn cho tính mạng và sự phát triển trong tương lai của trẻ. Các dị tật này có thể được sàng lọc và phát hiện sớm nhờ thăm khám với chuyên gia tim mạch. 

Bài viết liên quan