Đẻ non và những rủi ro về sức khỏe của trẻ đẻ non

Bài viết được thực hiện bởi Bác sĩ chuyên khoa II Cao Thị Thanh – Bác sĩ Nhi – Khoa Nhi – Sơ sinh – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng.

Sinh non là nguyên nhân của gần một nửa số ca trẻ sơ sinh tử vong trên toàn thế giới. Nguyên nhân này được xếp thứ hai trong số những nguy cơ gây tử vong cho trẻ dưới 5 tuổi chỉ sau bệnh viêm phổi.

1. Tổng quan

Theo số liệu của Tổ chức Y Tế thế giới (WHO): hàng năm, trên toàn thế giới có xấp xỉ 15 triệu trẻ sinh non và con số này vẫn không ngừng tăng lên theo mỗi năm. Tỷ lệ trẻ sinh non chiếm trung bình từ 5% đến 18% số trẻ được sinh ra trong 184 nước trên toàn thế giới. Chỉ tính riêng trong năm 2015, xấp xỉ một triệu trẻ sơ sinh đã chết vì đẻ non và điều đáng nói ở đây là ba phần tư trong số những đứa trẻ kém may mắn đó đã có thể tiếp tục sống nhờ vào những biện pháp can thiệp y tế.

Đẻ non là một hiện tượng toàn cầu và không hoàn toàn chỉ liên quan đến những nước kém phát triển. Brazil và Mỹ là hai ví dụ điển hình. Dù không phải là hai quốc gia kém phát triển nhưng cả hai nước đều nằm trong top 10 những nước có số lượng trẻ đẻ non cao nhất. Cụ thể, ở Mỹ, tỷ lệ trẻ đẻ non là 12%. Ở Việt Nam, một đất nước đang phát triển, tỷ lệ này còn có xu hướng giảm dần, ngược lại với xu hướng chung của châu Á, châu Âu và vùng Bắc Mỹ.

Ở những nước phát triển, tuổi tác của người mẹ, số lần mang thai nhiều, sinh mổ và việc sử dụng thuốc… là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ đẻ non tăng cao. Ở những nước kém phát triển hơn, nguyên nhân chính của việc sinh non có thể bao gồm: nhiễm trùng, sốt rét, HIV, mang thai tuổi vị thành niên. Tuy nhiên vẫn có những trường hợp nằm ngoài những yếu tố trên mà vẫn chưa thể giải thích được.

Lớn tuổi mang thai

2. Sinh non là gì?

Định nghĩa của WHO, trẻ sinh non sẽ được chia theo 3 mức độ :

  • Sinh non: Những em bé sinh ra trong khoảng giữa tuần thứ 32 và 37 – chiếm 84% tổng số trẻ sinh non (12.5 triệu). Phần lớn trong số chúng sống sót, có thể phải nhờ vào chăm sóc hỗ trợ.
  • Rất non: Những em bé sinh giữa tuần thứ 28 và 32. Những em bé này cần nhiều chăm sóc hỗ trợ hơn và phần nhiều trong số chúng vẫn sẽ có thể sống sót.
  • Cực non: Những em bé sinh trước tuần thứ 28. Những em bé này cần thiết điều trị tích cực để sống sót. Ở những nước phát triển, những em bé sinh cực non có 90% cơ hội sống sót dù chúng phải chịu những di chứng sau này. Ở những nước kém phát triển, cơ hội sống sót chỉ khoảng 10%.

Sinh non còn được chia làm hai loại :

  • Sinh do có nguy cơ chuyển dạ sớm hoặc vỡ ối sớm.
  • Sinh bắt buộc theo y lệnh của bác sĩ. Thường xảy ra do sức khỏe của sản phụ không đảm bảo hoặc thai nhi gặp nguy hiểm như tiền sản giật.

3. Nguy cơ sớm của trẻ đẻ non

Ngay sau khi sinh, trẻ đẻ non hoàn toàn có thể gặp những yếu tố về sức khỏe thể chất sau :

  • Thiếu máu (Anemia): Trẻ sinh non nằm trong những đơn vị chăm sóc đặc biệt phải được lấy máu thường xuyên để theo dõi sức khỏe. Điều này vô hình chung dẫn đến việc chúng không thể tái tạo lại đủ, kịp thời lượng máu đã mất trong quá trình lấy máu xét nghiệm nên gây thiếu máu. Thiếu máu gây nên bão hòa oxy và nồng độ glucose trong máu thấp, làm cho các cơ quan trong cơ thể trẻ không thể hoạt động ổn định.

Suy hô hấp trẻ sơ sinh, sinh non

  • Các vấn đề về hô hấp như:
    • Chứng ngừng thở ở trẻ sinh non (Apnea of prematurity): Trẻ ngừng thở trong vòng 15 đến 20 giây hoặc hơn, nó có thể diễn ra cùng lúc với chứng chậm nhịp tim.
    • Loạn sản phế quản phổi (Bronchopulmonary dysplasia): Bệnh phổi này xuất hiện ở trẻ sinh non phải thở máy. Trẻ mắc bệnh này thường có nguy cơ mắc bệnh về phổi cao hơn trẻ em bình thường khác và đôi khi có thể bị tổn thương phổi.
    • Hội chứng suy hô hấp cấp (Respiratory Distress Syndrome): Thường trẻ mắc phải hội chứng này do phổi của chúng không thể tạo ra đủ surfartant, làm giãn nở phổi.
  • Nhiễm khuẩn (Infections): Do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, trẻ sinh non dễ bị nhiễm khuẩn hơn nhiều so với những đứa trẻ khỏe mạnh khác.
  • Chảy máu não (Intraventricular hemorrhage): Trẻ càng sinh non, tỷ lệ mắc bệnh càng cao.
  • Vàng da (Jaundice): Vàng da ở trẻ đẻ non thường nhiều và kéo dài hơn so với trẻ đủ tháng. Vàng da do sự tích tụ bilirubin trong máu. Điều này cho thấy gan của trẻ chưa phát triển hết hoặc hoạt động không bình thường.
  • Viêm ruột hoại tử (Necrotizing enterocolitis): Bệnh này rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến ruột non của trẻ. Khi trẻ mắc bệnh này, đồng nghĩa với việc nhu mô ruột bị tổn thương hoặc bắt đầu hoại tử.
  • Còn ống động mạch (Patent ductus arteriosus): là một khuyết tật tim bẩm sinh trong đó ống động mạch (một mạch nối động mạch phổi với phần động mạch chủ đi xuống) không đóng được. Nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tăng huyết áp phổi, rối loạn nhịp tim (nhịp tim không đều) và suy tim sung huyết
  • Bệnh võng mạc trẻ sinh non (Retinopathy of prematurity- ROP): Là chứng rối loạn thị lực – thường phát triển ở cả hai mắt – là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây mất thị giác ở trẻ em và có thể dẫn đến suy giảm thị lực suốt đời và mù lòa

Retinopathy of prematurity- ROP

4. Nguy cơ muộn của trẻ đẻ non

Ngoài những rủi ro đáng tiếc về sức khỏe thể chất sau sinh, trẻ đẻ non còn phải đương đầu với những rủi ro đáng tiếc sức khỏe thể chất vĩnh viễn cho đến tuổi trưởng thành .Những rủi ro đáng tiếc đó hoàn toàn có thể là :

  • Bại não: Bao gồm rối loạn vận động – trương lực cơ, có thể gây nên bởi nhiễm trùng, lưu lượng máu giảm hoặc chấn thương não bộ của trẻ sinh non.
  • Học kém: Trẻ sinh non có nhiều khả năng tụt hậu so với các bạn đủ tháng cùng lứa tuổi.
  • Vấn đề về thị lực: Bệnh võng mạc trẻ sinh non có thể gây suy giảm thị lực trong nhiều năm, thậm chí gây mù nếu không được chữa trị kịp thời.
  • Vấn đề thính lực: Cho dù trẻ sinh non được kiểm tra về thính lực trước khi xuất viện, nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ suy giảm thính lực về lâu dài.
  • Vấn đề răng miệng: Trẻ sinh non có nguy cơ gặp các vấn đề về phát triển răng, chẳng hạn như mọc răng chậm, răng xỉn màu và răng mọc không đúng cách.
  • Vấn đề hành vi và tâm lý: Trẻ sinh non có thể có nguy cơ có một số vấn đề về hành vi hoặc tâm lý cũng như chậm phát triển trí tuệ hơn trẻ đủ tháng.
  • Các vấn đề sức khỏe mãn tính: Trẻ sinh non có nhiều khả năng gặp các vấn đề sức khỏe mãn tính – một số trong đó có thể cần được chăm sóc tại bệnh viện – hơn là trẻ đủ tháng như nhiễm trùng, hen suyễn và các vấn đề về ăn uống. Trẻ sinh non cũng có nguy cơ mắc hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (SIDS).

5. Những phương pháp cứu trẻ sinh non

Các chuyên viên cho rằng những giải pháp quá văn minh và đắt đỏ không phải là giải pháp duy nhất để cứu sống trẻ đẻ non. Vẫn có những kỹ thuật can thiệp đơn thuần, hiệu suất cao, ít tốn kém góp thêm phần cứu sống trẻ đẻ non như :

  • Tiêm steroid trước sinh cho những bà mẹ chuyển dạ sớm. Biện pháp này chỉ tốn trung bình 1 $/mũi. Điều này giúp phát triển phổi thai nhi và ngăn ngừa các vấn đề hô hấp.

Thuốc tiêm, tiêm thuốc, thuốc nước

  • “Kangaroo Care” – Chăm sóc kiểu Kangaroo: Trẻ sơ sinh được tiếp xúc trực tiếp da kề da với mẹ. Giữ ấm trẻ qua hơi ấm của mẹ rất tốt cho trẻ, làm cho trẻ tiêu hóa tốt hơn và theo dõi trẻ dễ dàng hơn.
  • Kháng sinh để ngăn ngừa và chống nhiễm trùng, một nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở trẻ sơ sinh.
  • Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn.

6. Những biện pháp phòng tránh đẻ non

Rất nhiều những yếu tố dẫn đến sinh non đã được xác định bao gồm: Bà mẹ có tiền sử sinh non, thiếu cân, béo phì, tiểu đường, huyết áp cao, hút thuốc, nhiễm trùng, tuổi mẹ (dưới 17 hoặc trên 40), yếu tố di truyền, đa thai (sinh đôi, sinh ba, và hơn nữa), và khoảng cách giữa 2 lần mang thai quá gần.

Tuy nhiên không có bất kể sự tương tác nào giữa những yếu tố này với nhau và giữa chúng với những yếu tố môi trường tự nhiên và xã hội khác được chứng tỏ bởi những khu công trình điều tra và nghiên cứu khoa học .

Như vậy, trong khi chờ đợi câu trả lời một cách rõ ràng và khoa học nhất, những biện pháp sàng lọc, chăm sóc, theo dõi sức khỏe phụ nữ trước khi sinh là những biện pháp hữu hiệu góp phần ngăn ngừa tình trạng đẻ non.

Đối với những phụ nữ có rủi ro tiềm ẩn cao, 1 số ít can thiệp y học được tính đến để giúp họ tránh được sinh non gồm có :

  • Bổ sung progesterone: Áp dụng cho phụ nữ có tiền sử sinh non, cổ tử cung ngắn hoặc cả hai yếu tố.
  • Khâu cổ tử cung: Áp dụng cho phụ nữ có cổ tử cung ngắn hoặc có tiền sử hở eo cổ tử cung.

Khâu vòng cổ tử cung

Tuy là hiện tượng thường gặp nhưng sinh non lại tiềm ẩn trong nó rất nhiều mối nguy hại, không chỉ cho sức khỏe đứa trẻ sinh non mà còn cho cả tương lai của nó. Một đứa trẻ sinh non dù sống sót vẫn có thể đối mặt với những nguy cơ về sức khỏe cho đến tuổi trưởng thành.

Vì những lý do trên việc phòng ngừa cho những bà bầu, đặc biệt là những người mang nguy cơ sinh non cao trở nên rất quan trọng. Một đứa trẻ khỏe mạnh, được sinh ở tuần thai thứ 39 luôn luôn xứng đáng với sự chờ đợi của gia đình và xã hội.

Ngay cả khi việc dự trữ sinh non trở nên bất khả kháng, vẫn có rất nhiều chiêu thức can thiệp y học hài hòa và hợp lý về mặt giá tiền và thường thì để phòng tránh cho trẻ sinh non những rủi ro đáng tiếc về sức khỏe thể chất trước mắt và vĩnh viễn .

Và điều thực sự quan trọng cuối cùng đó là những kiến thức về phòng tránh và điều trị sinh non rất cần được phổ biến rộng rãi trong các nhân viên y tế: từ hộ lý, y tá đến bác sĩ, chuyên gia. Sự cần thiết này phải được ưu tiên tương xứng với mức độ nguy hiểm của một hiện tượng gây chết người chỉ sau viêm phổi.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Bài viết liên quan